Untitled Document
Thứ Tư - 18/7/2018
Untitled Document
Máy nước nóng năng lượng mặt trời
Hội nghị tổng kết hợp phần SXSH trong công nghiệp 2005 – 2011
Lợi ích kép từ việc ứng dụng SXSH trong công nghiệp
Giải quyết ô nhiễm tại Công ty CP Mía đường Sông Lam
Tài liệu hướng dẫn lồng ghép SXSH và Sử dụng năng lượng hiệu quả
Xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể cá thu nướng Cửa Lò được hội đồng khoa học tỉnh đánh giá đạt loại xuất sắc
Nghề quạt giấy thủ công ở Nghi Lộc
Hàng loạt tin vui đến với cán bộ, công chức, viên chức từ 01/7
Hội chợ triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc năm 2018
Khuyến công Nghệ An, 16 năm một chặng đường
Untitled Document
Lợi ích kép từ việc ứng dụng SXSH trong công nghiệp
Ngày cập nhật 29/11/2011
Thực tế đã chứng minh, bất kỳ một quá trình sản xuất công nghiệp nào cũng đều phát sinh chất thải và gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng. Mức độ phát thải, về lượng cũng như mức độ ô nhiễm của một quá trình sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng nguyên liệu đầu vào, quản lý sản xuất, công nghệ, thiết bị, mức độ tận dụng và tái sử dụng chất thải… Áp dụng SXSH trong công nghiệp không những đáp ứng mong muốn “bảo tồn tài nguyên và giảm thiểu chất thải", đảm bảo sự phát triển bền vững các ngành công nghiệp mà con mang lại những lợi ích kinh tế cho DN, xã hội.


            Hằng năm, các hoạt động công nghiệp thải ra 50% khí đioxit cacbon, bên cạnh đó các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người cũng thải ra hàng triệu tấn chất thải nguy hiểm gây ô nhiễm môi trường. Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần suất thiên tai tăng. Tầng ôzôn bị suy giảm. Hầu hết các nguồn tài nguyên đều bị suy thoái, nghiêm trọng nhất là tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước. Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng không nằm ngoài  thực trạng chung đó.

Theo đánh giá của Hợp phần SXSH trong Công nghiệp (CPI): Đối với lĩnh vực sản xuất  công nghiệp, chất lượng ô nhiễm không khí, tiếng ồn chủ yếu do các lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, luyện kim, khai khoáng, cao su, hoá chất, chế biến lâm sản, hải sản gây ra.  Nước thải, ô nhiễm nguồn nước, tập trung vào hầu hết các lĩnh vực sản xuất, trong đó nổi bật là: khai thác khoáng sản, chế biến lâm sản, nông sản, hải sản, súc sản, thực phẩm đồ uống… Chất thải rắn tập trung phần lớn ở khu vực TP Vinh và các khu vực đô thị, các khu, cụm công nghiệp.

Theo kết quả đánh giá về mức độ gây ô nhiễm môi trường tại Hội thảo SXSH trong công nghiệp năm 2009 của S Công Thương: trên địa bàn Nghệ An hiện có 04 nhà máy xi măng gây ô nhiễm, chủ yếu là khói, bụi; có hơn 120 cơ sở khai thác chế biến đá xây dựng, 14 lò tuy nen và khoảng gần 30 lò thủ công, CS khoảng 300 triệu viên/năm gây ô nhiễm chủ yếu là khí thải, bụi thải; Hiện có 01 NM bia công suất 50 triệu lít/năm, 01 nhà máy công suất 10 triệu lít/năm và khoảng 10 tổ hợp hoạt động theo mùa, 01 nhà máy sản xuất rượu công suất 2 triệu lít/năm gây ô nhiễm bởi nước thải, chủ yếu tập trung khu vực TP Vinh. Các cơ sở luyện kim như: 03 cơ sở luyện thiếc ở Quỳ hợp , 03 cơ sở luyện thép ở Diễn Châu, Nam Đàn gây ảnh hưởng đến môi trường chủ yếu là bụi thải, khí thải, tiếng ồn; 03 cơ sở SX giấy đang hoạt động (CS 30 nghìn tấn/năm) và 01 cơ sở đang xây dựng (CS 15 ngàn tấn/năm). 03 cơ sở SX bao bì. Ảnh hưởng chủ yếu là nước thải, bụi thải, khí thải; Các cơ sở chế biến thuỷ, hải sản: Tập trung khu vực ven biển, công nghệ còn thô sơ, lạc hậu, chủ yếu là các tổ hợp, HTX. Ảnh hưởng chủ yếu là nước thải, không khí; Các cơ sở chế biến nông sản: 03 nhà máy đường, 02 nhà máy CB tinh bột sắn, 01 nhà máy SX bột mỳ (02 NM đường và 02 NM tinh bột sắn đang tham gia DATD Hợp phần CPI);  Các Khu, cụm công nghiệp: Chính phủ đã có quy hoạch 07 KCN (03 đang hoạt động) và 01 KKT. Có 12 KCNN đang hoạt động. Các Khu, cụm CN hầu hết đều chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Một số KCNN hình thành tự phát do nhu cầu sản xuất. Một số Khu CN và CCN nằm trong khu vực đông dân cư do tốc độ đô thị hoá nhanh.

Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn là do các dự án đầu tư vào địa bàn ngày càng nhiều; Một số cơ sở SX đầu tư từ thời bao cấp, công nghệ lạc hậu, chắp vá; tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh nên nhiều nhà máy đã nằm trong khu vực đô thị và khu đông dân cư; sức ép về lợi nhuận, lao động, việc làm; trình độ hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật về BVMT của DN; thiếu vốn, ngại đổi mới, cải tiến CN; sự đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp luật, sự phối hợp trong công tác chỉ đạo BVMT; chế tài xử lý. Phương pháp xử lý hiện nay chủ yếu là thu gom và chôn lấp vĩnh viễn. Tỉnh có 01 nhà máy xử lý rác tập trung nhưng công nghệ chưa ổn định và khả năng đáp ứng nhu cầu còn thấp. 

Các cấp quản lý, các DN sản đã và đang đưa ra và ứng dụng nhiều biện pháp khắc phục và phòng ngừa tình trạng ô nhiêm môi trường, trong đó đáng chú ý là việc áp dụng SXSH trong hoạt động công nghiệp. Việc tiếp cận SXSH hơn trong công nghiệp góp phần tăng lợi ích kinh tế cho DN như: tiết kiệm tài chính thông qua giảm lãng phí năng lượng, nguyên vật liệu và các hoá chất, phụ gia; nâng cao hiệu suất hoạt động của nhà máy; nâng cao sự ổn định sản xuất và chất lượng sản phẩm; thu hồi nhiều loại phế liệu, phế phẩm; khả năng cải thiện môi trường làm việc (sức khoẻ và an toàn); cải thiện hình ảnh của DN; tuân thủ các quy định luật pháp tốt hơn; tiết kiệm chi phí xử lý chất thải; các cơ hội thị trường mới và hấp dẫn.

Đối với quá trình sản xuất, SXSH bao gồm giảm tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng cho 1 đơn vị sản phẩm, loại bỏ tối đa các vật liệu độc hại, giảm lượng và mức độ độc hại của tất cả các dòng thải trước khi ra khỏi quá trình. Đối với sản phẩm, SXSH tập trung làm giảm các tác động tới môi trường trong suốt vòng đời của sản phẩm kể từ khi khai thác nguyên liệu thô đến khi thải bỏ cuối cùng. SXSH yêu cầu từng bước cải tiến công nghệ hiện có và dần thay thế bằng những công nghệ tốt và công nghệ sạch.

Một trong những chương trình kiểm soát SXSH được đánh giá có hiệu quả là Chương trình SXSH trong công nghiệp, do Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc – UNIDO thực hiện với sự tài trợ của Tổ chức DANIDA. Chương trình  này được đưa vào áp dụng tại Việt Nam từ năm 1996 và triển khai từ năm 1998 tập trung ở một số ngành công nghiệp như giấy, dệt - nhuộm, thực phẩm (chế biến thuỷ sản và bia), vật liệu xây dựng và gia công kim loại với trên 130 DN thuộc 28 tỉnh và thành phố trong đó có Nghệ An, bước đầu mang lại những lợi ích kinh tế và môi trường thông qua tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, hoá chất, nước, giảm thiểu chất thải trong sản xuất.

Các DN tại Nghệ An tham gia đã thu được các lợi ích kinh tế nhờ giảm tiêu thụ nguyên vật liệu, năng lượng, hóa chất, đồng thời giảm lượng phát thải vào môi trường. Trong giai đoạn DN thực hiện các giải pháp đơn giản, đầu tư thấp, hầu hết các giải pháp đều mang lại lợi ích đáng kể, thời gian hoàn vốn dưới 1 năm, thậm chí một vài tháng. Đối với các giải pháp đầu tư lớn, hầu hết các giải pháp có thời gian hoàn vốn từ 1,5 đến 2 năm. Chính kết quả này làm cho các giải pháp SXSH khác với các giải pháp môi trường đơn thuần như xử lý chất thải. Việc giảm tiêu hao tài nguyên dẫn đến việc giảm đáng kể lượng chất thải cần phải xử lý. Kết quả ban đầu cho thấy: Công ty CP Mía đường Sông con đã giảm tiêu thụ điện năng 453.600 kwh/năm, tương đương giảm phát thải 314 tấn CO2/năm; giảm tiêu thụ nước làm mát, tương đương giảm nước thải 3.888.000 m3/năm;cẩi thiện điều kiện làm việc cho người lao động; Công ty CP giấy Sông Lam: Lượng nước tiêu thụ giảm: 9m3 nước/tấn SP, tương đương 36.900m3 nước/năm; Điện tiêu thụ giảm: 10,46 kWh/tấn SP, tương đương 42.886 kWh/năm; Than tiết kiệm: 0,07 tấn/tấn SP, tương đương 287 tấn/năm; Giảm phát thải khí nhà kính (tính theo CO2 tương đương): 559 tấn CO2/năm; Tổng tiết kiệm: 500.366.000 đồng/năm. Công ty TNHH SX&TM Kim Anh: Các lợi ích sau khi thực hiện các giải pháp SXSH tiết kiệm cho DN 940 triệu đồng/năm, giảm phát thải 25% chất rắn và 4% CO2 ra môi trường.

Bà Nguyễn Thị Lâm Giang, chuyên viên Vụ KHCN, Điều phối viên của CPI cho biết: “Trong năm đầu tiên, hầu hết các DN khi được chọn tham gia trình diễn đều dè dặt khi tiếp cận SXSH, cho đây là vấn đề môi trường đơn thuần, không liên quan đến cải tiến sản xuất, lợi ích kinh tế. Nhưng kết quả triển khai thực tế đã giúp họ cũng như các DN khác nhận ra SXSH về bản chất là giảm thiểu tiêu thụ tài nguyên, giảm thiểu phát thải từ đầu nguồn mang lại cả lợi ích kinh tế lẫn lợi ích môi trường, là điều các DN đều mong muốn. Trong nhiều trường hợp các giải pháp SXSH có thể giúp loại bỏ hoàn toàn sự cần thiết phải có giải pháp xử  lý chất thải cuối đường ống mà vẫn tuân thủ quy định về môi trường. Chính vì vậy, hiện nay rất nhiều DN tại các tỉnh mục tiêu chủ động đề xuất nguyện vọng muốn thực hiện SXSH”./.

Xuân Vinh (TTKC) - Lan Hương (TTXTTM)

 Bản in  Lên đầu trang
Untitled Document
 Thông tư số 26/2014/TT-BCT Quy định về việc tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu
 Quyết định 73/2015/QĐ-UBND Quy định xét tặng danh hiệu Nghệ nhân, Thợ giỏi lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tỉnh Nghệ An
 Quyết định số 5264/QĐ-UBND.CNTM ngày 10/11/2015 Phê duyệt Chương trình khuyến công tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016-2020
 Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công tỉnh Nghệ An
 Quyết định số 38/2014/QĐ-UBND về việc ban hành định mức kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Untitled Document