Untitled Document
- 21/10/2018
Untitled Document
Nghệ An: Nhân rộng mô hình sản xuất gạch không nung tự động
Máy nước nóng năng lượng mặt trời
Hội nghị tổng kết hợp phần SXSH trong công nghiệp 2005 – 2011
Lợi ích kép từ việc ứng dụng SXSH trong công nghiệp
Giải quyết ô nhiễm tại Công ty CP Mía đường Sông Lam
Cơ hội và thách thức cho sản phẩm vật liệu xây dựng ngói màu không nung
Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chị Nguyễn Thị Yến: kết duyên với nghề làm lẳng hoa
Thị xã Hoàng Mai: Tăng tốc, phát triển bền vững
Khai mạc Hội chợ quốc tế Quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội
Untitled Document
Quế Phong: Phát triển công thương góp phần xóa đói giảm nghèo
Ngày cập nhật 27/09/2010
Quế Phong là huyện miền núi cao, địa hình chia cắt, chủ yếu là đồi núi chiếm tới 85% diện tích tự nhiên của huyện; giao thông đi lại, đặc biệt là giao thông đến các thôn, bản còn gặp nhiều khó khăn; khí hậu thời tiết quanh năm diễn biến phức tạp và thường xuất hiện lũ cục bộ ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân.


Tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng trong 5 năm qua Đảng bộ và đồng bào các dân tộc Quế Phong đã nỗ lực phấn đấu vươn lên phát triển kinh tế - xã hội và đạt nhiều kết quả quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn bình quân giai đoạn 2006 -2010 đạt 10,10%, trong đó ngành công nghiệp - xây dựng đạt 18,5%, dịch vụ đạt 9,9%; nông, lâm, thủy sản đạt 4,3%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 4,6% năm 2005 lên 11,34% năm 2010; thương mại - dịch vụ tăng từ 29,2% năm 2005 lên 31,02% năm 2010; nông, lâm, thủy sản giảm từ 66,2% năm 2005 xuống còn 57,64%. Văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, bản sắc văn hóa các dân tộc được quan tâm giữ vững và phát huy; đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt hiệu quả, bộ mặt nông thôn, đô thị của huyện có nhiều đổi mới.

Là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước, Quế Phong không chỉ được sự quan tâm đầu tư của tỉnh nhà mà còn nhận được sự quan tâm đầu tư không nhỏ của Trung ương, các Bộ, Ngành quản lý, nhất là các chương trình đầu tư theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội dành cho huyện tăng mạnh, bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt trên 1.211 tỷ đồng. Nguồn vốn này đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt huyện nhà, phát triển công thương góp phần quan trọng trong giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 59,51% năm 2005 xuống còn 40,08% năm 2010.

Được xác định là động lực để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thời gian qua lĩnh vực công thương của huyện được quan tâm đầu tư và có sự chuyển biến rõ nét. Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đầu tư xây dựng của huyện tăng trưởng nhanh, góp phần tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm cho người lao động. Tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 43 tỷ đồng. Các sản phẩm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngày càng phát triển và đa dạng hóa, sản phẩm chủ yếu là khai thác mỏ, vật liệu xây dựng, mộc dân dụng, gò hàn, may mặc. Đặc biệt huyện đã phát huy lợi thế về tiềm năng thủy điện, tập trung thu hút đầu tư và xây dựng các nhà máy thủy điện, đến nay đã đầu tư xây dựng 06 nhà máy thủy điện và đã hoàn thành phát điện 02 nhà máy với tổng công suất 21MW. Một số dự án đang đầu tư trên địa bàn hoàn thành và đưa vào sử dụng sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong tăng nguồn thu, giải quyết việc làm cũng như tăng các loại hình dịch vụ, giao lưu phát triển kinh tế và tiến tới phát triển khu du lịch sinh thái như công trình thủy điện Hủa Na, thủy điện Nhạn Hạc.

Lĩnh vực thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển khởi sắc, tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 84 tỷ đồng; hệ thống nhà nghỉ, ăn uống, vận tải và bưu chính viễn thông, Internet tăng khá nhanh và kinh doanh có hiệu quả cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng từ 167,6 tỷ đồng năm 2005 lên 442 tỷ đồng năm 2010. Các loại hình dịch vụ  các cơ sở kinh doanh cá thể liên tục tăng, đến cuối năm 2009 có 403 cơ sở kinh doanh cá thể trong tổng số 450 cơ sở kinh doanh toàn huyện. Các chính sách về trợ cước, trợ giá các mặt hàng chính sách, hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao năng lực quản lý điều hành được tổ chức thực hiện tốt. Từ đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, đại lý làm tốt nhiệm vụ dự trữ và phân phối các mặt hàng chính sách như phân bón, dầu hỏa, gạo, muối phục vụ cho sản xuất cũng như đảm bảo đời sống của nhân dân.

Hiện nay, trên địa bàn huyện đã có 11/14 xã, thị trấn sử dụng được điện thoại di động, 14/14 xã, thị trấn sử dụng được điện thoại cố định, đưa tổng số máy cố định trên địa bàn từ 1.200 máy năm 2005 lên hơn 3.200 máy năm 2010, đạt mức bình quân 05 máy/100 dân. 120 thôn bản của 11/14 xã, thị trấn được sử dụng điện lưới quốc gia, đưa tỷ lệ hộ dân được dùng điện lưới lên 64,26%. Số hộ dân sử dụng nước sinh hoạt tương đối hợp vệ sinh đạt 80%. Hoạt động tín dụng và tiền tệ có nhiều chuyển biến tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân vay vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo công ăn việc làm ổn định cho các hộ dân, giúp họ từng bước xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng, xây dựng nông thôn đổi mới.

Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện thời gian qua đã góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, thực hiện các chính sách an sinh xã hội.  Mỗi năm, huyện đã tạo việc làm mới cho 700 đến 1.500 lao động, trong đó đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài từ 100 đến 120 người. Các xã, thị trấn đã xây dựng được các dự án vay vốn nhỏ, giải quyết việc làm tại chỗ cho người dân; đã huy động mọi nguồn lực và tổ chức xóa xong 2689/2689 hộ có nhà dột nát tạm bợ, góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo. Kết quả là thu nhập bình quân đầu người tăng từ 4,26 triệu đồng năm 2005 lên 10,38% triệu đồng năm 2010, công tác chăm sóc người có công và cứu trợ cho đồng bào bị ảnh hưởng do lũ, lốc và trong dịp đói giáp hạt được thực hiện tốt, các đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định 67/CP thường xuyên được quan tâm chăm lo. Vấn đề ăn ở, học hành, chữa bệnh và hưởng thụ văn hóa của nhân dân từng bước được giải quyết.

Bên cạnh những kết quả đạt được, lĩnh vực công nghiệp - thương mại của huyện phát triển còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của huyện. Tiểu thủ công nghiệp vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ và tự phát. Việc xây dựng làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống, đào tạo bồi dưỡng kiến thức về TTCN hiệu quả còn thấp. Tiến độ triển khai các công trình trọng điểm, nhất là các công trình thủy điện còn chậm. Mô hình chuyển đổi quản lý điện nông thôn hiệu quả chưa cao. Việc xây dựng các trung tâm thương mại, hệ thống chợ nông thôn và mạng lưới cung ứng các sản phẩm thiết yếu chưa đáp ứng yêu cầu. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm trên địa bàn còn chậm.

Trong thời gian tới, để thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và thoát nghèo bền vững theo tinh thần Nghị quyết 30a của Chính phủ, huyện Quế Phong đang tiếp tục khơi dậy tiềm năng, nội lực, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, tập trung phát huy, tận dụng lợi thế để phát triển, đẩy nhanh việc xây dựng các khu TTCN và phát triển làng nghề, làng có nghề. Khai thác lợi thế về sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là vật liệu không nung như cát, sỏi, đá các loại Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chế biến mũi nhọn, có lợi thế so sánh và có thị trường như chế biến gỗ, sơ chế nguyên liệu, đá ốp lát, mộc dân dụng, gạch Tuynen, rèn công cụ và dụng cụ lao động; duy trì và phát triển nghề truyền thống, dệt thổ cẩm, đan lát để tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, tạo việc làm, tăng thu nhập và giữ gìn bản sắc dân tộc. Phối hợp với các đơn vị, doanh nghiệp, tận dụng các nguồn vốn đầu tư để tập trung cho công tác đào tạo, nhất là dạy nghề phục vụ cho xuất khẩu lao động và phát triển làng nghề, hình thành các cơ sở dịch vụ ở nông thôn. Làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, các nhà máy thủy điện như Hủa Na, Châu Thôn, Nhạn Hạc.

Bên cạnh đó, huyện còn quan tâm đầu tư phát triển hệ thống chợ nông thôn, trung tâm thương mại để đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Triển khai và thực hiện có hiệu quả việc quy hoạch mở rộng thị trấn Kim Sơn nhằm xây dựng trung tâm thương mại, khuyến khích các doanh nghiệp có điều kiện đầu tư xây dựng để hình thành một số cụm thương mại dịch vụ tại thị trấn Kim Sơn và các trung tâm cụm xã. Xây dựng chợ tại vùng quy hoạch Cửa khẩu Thông Thụ, từng bước quy hoạch thành cửa khẩu Quốc gia. Xây dựng hệ thống chợ nông thôn miền núi nhằm phát huy lợi thế khi hệ thông đường giao thông từ trung tâm huyện đến các xã và đường giao thông vành đai hoàn thành. Tạo điều kiện để phát triển mạng lưới cung ứng vật tư, phân phối nhu yếu phẩm được mở rộng đáp ứng nhu cầu của nhân dân.

Từng bước đầu tư xây dựng và hình thành các thương hiệu sản phẩm đặc sản Quế Phong. khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư phát triển dịch vụ, trong đó tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động của dịch vụ vận tải hành khách gắn với phát triển du lịch, hình thành các tour du lịch: Hồ thủy điện - Lào - bản Thái - thác Mường Đán - các khu rừng nguyên sinh Hạnh Dịch, Nậm Giải - thác Sao Va - Đền Chín Gian với cơ sở hạ tầng nhà hàng, khách sạn phục vụ tốt nhu cầu của du khách thập phương.

Với quyết tâm của tất cả các cấp, các ngành và sự đồng thuận của đồng bào các dân tộc huyện Quế Phong cùng nhiều biện pháp để khai thác, phát huy tiềm năng sẵn có của địa phương, kết hợp quản lý sử dụng có hiệu quả các chương trình, dự án đầu tư của Trung ương, của địa phương, chúng ta tin rằng mục tiêu phấn đấu thoát nghèo và trở thành một trong huyện khá của miền núi phía vùng cao tỉnh Nghệ An của huyện Quế Phong sẽ sớm trở thành hiện thực./.
 Bản in  Lên đầu trang
- Công ty CP nước mắm Vạn phần - Diễn Châu ngày càng khẳng định thương hiệu  (22/09/2011)
- Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả chính thức có hiệu lực (06/01/2011)
Untitled Document
 Thông tư số 26/2014/TT-BCT Quy định về việc tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu
 Quyết định 73/2015/QĐ-UBND Quy định xét tặng danh hiệu Nghệ nhân, Thợ giỏi lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tỉnh Nghệ An
 Quyết định số 5264/QĐ-UBND.CNTM ngày 10/11/2015 Phê duyệt Chương trình khuyến công tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016-2020
 Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công tỉnh Nghệ An
 Quyết định số 38/2014/QĐ-UBND về việc ban hành định mức kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Untitled Document