Các khó khăn và hạn chế trong việc thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ

Thời gian qua, công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đã được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm và định hướng là một trong những ngành ưu tiên phát triển và được xác định là ngành công nghiệp phát triển bền vững vào năm 2025 (theo Nghị định 111/2015/NĐ-CP ngày 03//11/2015 về phát triển công nghiệp hỗ trợ). Tuy nhiên, ngành CNHT Việt Nam vẫn bộc lộ những tồn tại, hạn chế và chưa phát triển theo kỳ vọng như:

           Nguồn nhân lực chất lượng cao còn yếu và thiếu

          Nhu cầu về sản phẩm CNHT là rất lớn, đặc biệt là khi tốc độ đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng cao. Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển mạnh, đòi hỏi chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp sẽ ngày càng khắt khe hơn, trong bối cảnh đó các doanh nghiệp ngoài việc phải đầu tư nhiều hơn cho dây chuyền công nghệ mới, hiện đại để đáp ứng yêu cầu sản xuất thì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình này ngày càng trở nên bức thiết. Tuy nhiên, hiện trạng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp CNHT ở Việt Nam mặc dù có lực lượng lao động dồi dào, cần cù, nhưng hiện nay nguồn lao động có chất lượng cao vẫn còn quá ít chủ yếu là các lao động giản đơn, chưa qua đào tạo chuyên ngành ứng dụng công nghệ cao vào quá trình sản xuất quá trình lao động, ngoại ngữ và hạn chế trong việc thích nghi môi trường có áp lực cạnh tranh cao. Nhiều doanh nghiệp còn chưa gắn kế hoạch phát triển nguồn nhân lực với mục tiêu phát triển sản xuất nên có sự hụt hẫng về đội ngũ, không chủ động nguồn nhân lực chất lượng đào tạo thấp đã làm ảnh hưởng đến chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng, chất lượng kỹ sư, công nghệ viên, kỹ thuật viên và công nhân. Đặc biệt là lao động có tay nghề còn rất yếu so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia...điều này khiến cho rất nhiều doanh nghiệp bị mất các hợp đồng sản xuất cũng như nhận được sự đầu tư của các doanh nghiệp CNHT lớn trên thế giới...nguyên nhân dẫn tới việc thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ có nhiều nhưng tựu chung là do quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành CNHT còn nhiều vấn đề bất cập so với yêu cầu. Chưa có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong ngành CNHT một cách toàn diện và dài hạn, mang tầm quốc gia để định hướng các cơ quan, đoàn thể cùng phối hợp hành động.  

 

Nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề nan giải với các doanh nghiệp CNHT

 

          Các chính sách hỗ trợ chưa thực sự hiệu quả

          Mặc dù đã có những văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát triển CNHT, tuy nhiên các chính sách được ban hành chậm. Chính sách thu hút các doanh nghiệp FDI chưa gắn với các ràng buộc về trách nhiệm phát triển hệ thống nhà cung ứng nội địa tại Việt Nam. CNHT có mối liên hệ hữu cơ với các ngành sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, tuy nhiên chính sách tạo ra các liên kết giữa các doanh nghiệp này và các doanh nghiệp CNHT còn chưa được hình thành. Mối quan hệ ràng buộc giữa các ưu đãi của các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh và nghĩa vụ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được thể hiện trong bất kỳ văn bản qui phạm pháp luật nào. Ở giai đoạn đầu phát triển, ngành CNHT còn nhiều hạn chế và yếu kém, chưa đủ nguồn lực để vươn ra chiếm- lĩnh thị trường nước ngoài, vì vậy thị trường nội địa đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, các chính sách phát triển các ngành công nghiệp chính như ô tô, cơ khí, điện tử, dệt may…nhằm tạo thị trường cho CNHT cũng chưa đạt được những kết quả như mong muốn, gây ra các hạn chế trong việc phát triển chuỗi sản xuất trong nước và quốc tế, khiến dung lượng thị trường cho ngành CNHT thời gian vừa qua không đủ để thúc đẩy sự phát triển của ngành này.

          Trong khi đó, một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ tuy đã được quy định trong nghị định số 111/2015/NĐ-CP, nhưng chịu sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành (như Luật Đất đai, Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Đấu thầu…). Việc tổ chức thực hiện một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ còn gặp nhiều vướng mắc như chính sách bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ qua hệ thống ngân hàng phát triển, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong CNHT. Các cơ chế về ưu đãi tín dụng đầu tư, tiền thuê đất, đặc biệt là phân bổ nguồn lực để triển khai các chính sách về CNHT chưa được cụ thể hóa…Việc thiếu các cơ chế này khiến doanh nghiệp CNHT khó khăn trong việc tiếp cận các hỗ trợ và ưu đãi. Bên cạnh đó, công tác thực thi chính sách về CNHT còn rất hạn chế chưa tạo ra các chế tài chặt chẽ buộc phải tuân thủ về việc bố trí các nguồn lực để triển khai.

          Các cơ quan quản lý nên có các chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cũng như đổi mới và cải cách các chính sách hỗ trợ để qua đó thúc đây ngành CNHT của tỉnh Nghệ An cũng như của cả nước ngày càng phát triển và đạt được các thành quả như kì vọng ban đầu./.                                                                                       

                                                                   Cao Đức Minh - Phòng CNHT

                                                                                               

Phản hồi bài viết