Thực trạng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Trong những năm qua, công nghiệp Nghệ An phát triển khá và đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và đóng góp lớn cho nguồn thu ngân sách của tỉnh; giải quyết nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Cơ cấu công nghiệp tiếp tục chuyển dịch nhanh và đúng hướng, cơ cấu nội ngành có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo, giảm dần công nghiệp khai khoáng. Đã hình thành được một số lĩnh vực công nghiệp chủ lực,

 

Mục tiêu phát triển công nghiệp Nghệ An trong những năm tới là vừa
ưu tiên các ngành có lợi thế cạnh tranh, vừa tập trung chuyển dịch cơ cấu sang các lĩnh vực có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, tăng tỷ trọng hàng công nghiệp xuất khẩu, đẩy mạnh các ngành sản xuất thành phẩm cuối cùng. Công nghiệp hỗ trợ kém phát triển dẫn đến các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào linh kiện nhập khẩu sẽ làm tăng chi phí đầu vào do tiền chuyên chở, kho vận, bảo hiểm,... tăng lên, chưa kể rủi ro về thời gian nhận hàng ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, giảm sức cạnh tranh. Từ đó việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) từ những nhà sản xuất lắp ráp, nhất là trong nhóm ngành cơ khí chế tạo, sản xuất và lắp ráp ô tô, sản xuất máy móc, thiết bị,... do tỷ lệ chi phí cho linh, phụ kiện của nhóm ngành này thường chiếm tới 70% trong giá thành sản phẩm (cao hơn nhiều so với chi phí lao động vẫn được coi là còn khá rẻ và dồi dào ở tỉnh ta).

1. Hiện trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện một số nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ chủ yếu như: Sản xuất linh kiện, phụ tùng kim loại; sản xuất bao bì; sản xuất linh kiện điện tử, công nghiệp hỗ trợ dệt may. Tuy nhiên số lượng và quy mô các doanh nghiệp còn rất hạn chế, qua điều tra khảo sát, tính đến năm 2017, các ngành CNHT tỉnh Nghệ An có khoảng 105 doanh nghiệp, chiếm 28,15% số doanh nghiệp trong các ngành có công nghiệp hỗ trợ và chỉ chiếm 7,6% tổng số doanh nghiệp toàn ngành công nghiệp. Cụ thể:

 

TT

Phân loại CNHT

Số cơ sở CNHT

Số DNCN trong ngành

Tỷ lê (%)

1

Nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện kim loại (cơ khí)

52

163

31,90

2

Nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện điện tử

06

17

35,29

3

CNHT ngành sản xuất ô tô, xe máy

03

12

25,0

4

CNHT Dệt may-da giày

20

84

23,80

5

CNHT sản xuất hóa chất, linh kiện nhựa, cao su,...

04

76

5,26

6

CNHT sản xuất bao bì, in ấn, tem nhãn

20

20

100

Tổng số

105

372

 

       * Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2017

1.1. Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo

Nhu cầu về sản phẩm CNHT phục vụ ngành cơ khí chế tạo trên địa bàn tỉnh Nghệ An và thị trường cả nước là rất lớn, đa dạng cả về kích thước, mẫu mã, chất lượng và được dự báo là sẽ tăng trưởng nhanh trong những năm tới, nhằm phục vụ cho các dự án lớn trong các lĩnh vực đóng tàu, điện, xi măng, thiết bị xây dựng, phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng như các sản phẩm cơ khí phục vụ tiêu dùng. Tuy nhiên CNHT cho những ngành này hiện nay không đáp ứng được, đặc biệt là ở các dự án lớn trong ngành đóng tàu, thiết bị điện, xi măng. Trên địa bàn tỉnh có khoảng 163 doanh nghiệp công nghiệp cơ khí đang hoạt động nhưng chỉ có 05 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế và 23 cơ sở gia công một số chi tiết máy móc, thiết bị ngành cơ khí và 06 cơ sở sản xuất các thiết bị đóng tàu, thuyền nhưng để phát triển các cơ sở này đủ khả năng tham gia vào chuỗi giá trị là rất khó. Nhìn chung, ngành công nghiệp cơ khí ở Nghệ An hiện nay chưa phát triển

- CNHT nhóm cơ khí phục vụ ngành nông nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác chế biến khoáng sản đã có những bước phát triển nhất định nhưng chủ yếu mới phục vụ thị trường các doanh nghiệp trong tỉnh. Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ nhóm này trên địa bàn Nghệ An mới chỉ dừng lại một số chi tiết như đúc gang (dạng phôi), nhựa, cao su; động cơ và thân vỏ khung các loại máy nổ, máy xay xát, máy bơm nước, máy cày, máy gặt đập liên hoàn; sản xuất chế tạo các loại khuôn mẫu, bồn áp lực, phụ tùng, bi nghiền, băng chuyền, các thiết bị phụ tùng cho ngành hoá chất, thiết bị đong đếm và bơm xăng dầu; sản xuất kết cấu thép gia công và chế tạo,... phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ, mía đường, sản xuất xi măng, gạch ngói, khai thác chế biến khoáng sản,... Tuy nhiên, các sản phẩm sản xuất còn thủ công nhiều, hàm lượng công nghệ chưa cao.

- CNHT nhóm cơ khí đóng tàu: Các sản phẩm như vỏ lãi, xuồng, tàu, bồn nước các loại, chi tiết máy đánh bắt thủy sản, chân vịt, máy ép chân vịt, ép tôn, trục tiến tới hộp số phục vụ công nghiệp đóng, sửa chữa tàu, thuyền

1.2. Ngành sản xuất phụ tùng điện, linh kiện điện tử, CNTT, viễn thông

Nghệ An với lợi thế  có điều kiện về mặt hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực CNTT, môi trường tổ chức - chính sách thuộc loại khá so với các tỉnh thành đứng đầu cả nước nhưng công nghiệp điện-điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông phát triển còn chậm kéo theo CNHT cho ngành này chưa phát triển. CNHT lĩnh vực này có 06 cơ sở sản xuất trên tổng số 17 doanh nghiệp ngành công nghiệp sản xuất thiết bị điện, điện tử, CNTT, viễn thông,  sản phẩm chủ yếu là thiết bị điện tử, viễn thông và các thiết bị ứng dụng trong điện thoại di động, vi mạch bán dẫn công nghệ cao. Còn có một số cơ sở sản xuất thiết bị điện, linh kiện điên tử nội địa nhưng quy mô còn nhỏ, sản phẩm chất lượng chưa cao, thị trường tiêu thụ khó nên hoạt động sản xuất cầm chừng, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.

1.3. CNHT ngành sản xuất lắp ráp  ô tô, xe máy

Trên địa bàn tỉnh chưa có tập đoàn nào sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy do vậy, công nghiệp hỗ trợ lĩnh vực này không đáng kể và phát triển chậm. Ngành sản xuất xe có động cơ, rơ moóc và các phương tiện vận tải khác có 12 doanh nghiệp, tạo việc làm cho 548 lao động. Trong số đó, chỉ có 03 doanh nghiệp và một số cơ sở nhỏ lẻ sản xuất các phụ tùng linh kiện.

1.4. CNHT ngành dệt may-da giày

Công nghiệp dệt may - da giày Nghệ An là ngành chủ lực về tạo ra nhiều việc làm, mang lại kim ngạch xuất khẩu cao cho tỉnh. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 65 cơ sở/nhà máy may mặc đang hoạt động trải khắp các huyện, thành, thị; 01 nhà máy thuộc gia và 01 dự án sản xuất giày da xuất khẩu.

Với quy mô phát triển hiện nay của công nghiệp dệt may - da giày là điều kiện thuận lợi cơ bản cho ngành CNHT ngành này phát triển. Tuy nhiên, lĩnh vực này nhìn chung đang yếu và thiếu do các doanh nghiệp dệt may - da giày của Nghệ An chủ yếu là gia công nên nguồn nguyên phụ liệu phải phụ thuộc vào sự chỉ định của nhà nhập khẩu, các nhà sản xuất CNHT trong nước thấy không có lãi nên không quan tâm đầu tư. Mặt khác, phát triển CNHT ngành dệt may - da giày đòi hỏi chi phí cho xử lý môi trường rất cao, nhất là công đoạn nhuộm vải và thuộc da, do đó sản phẩm làm ra có giá thành cao hơn sản phẩm nhập khẩu

1.5. CNHT sản xuất bao bì, in ấn và tem nhãn

Lĩnh vực CNHT sản xuất bao bì, in ấn và tem nhãn có khoảng 20 DN đang hoạt động, chủ yếu là doanh nghiệp trong nước quy mô nhỏ và vừa. Đây cũng là lĩnh vực CNHT phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp hạ nguồn khác nhau như bao bì giấy carton, bao bì nhựa và in ấn trên bao bì...

1.6. Thực trạng về lao động trong ngành CNHT

Tổng số lao động CNHT trên địa bàn tỉnh vẫn còn rất khiêm tốn, khoảng 10.783 người, chiếm chưa đầy 17% tổng số lao động ngành công nghiệp tỉnh và chiếm 27,7%. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chủ yếu là lao động qua trình độ sơ cấp, trung cấp chiếm tỷ trọng lớn trên 86,79% trong tổng số lao động. Điều đó phản ánh số lao động hiện nay phần lớn mới qua đào tạo cơ bản, thực hiện các công việc không yêu cầu cao về trình độ và kỹ năng như gia công, lắp ráp là chính, điển hình là số lượng lao động công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may-da giày chỉ chiếm 3,8% tổng số lao động làm việc trong ngành.

1.7. Trình độ công nghệ, tổ chức sản xuất và khả năng liên kết

- Lĩnh vực CNHT sản xuất nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện kim loại (cơ khí)
nhìn chung máy móc thiết bị đã lạc hậu vài thế hệ, ít được đổi mới kỹ thuật và công nghệ, nên chỉ có khả năng cung cấp các sản phẩm CNHT không có yêu cầu cao về kỹ thuật, độ chính xác thấp, các sản phẩm CNHT thuộc lớp cung ứng 3,4. Quy mô các doanh nghiệp cơ khí nhỏ và vừa, mặt bằng nhà xưởng chật hẹp, tổ chức sản xuất đơn chiếc, chủ yếu là gia công các sản phẩm cơ khí phục vụ nhu cầu của địa phương;
chưa có doanh nghiệp qui mô lớn làm vai trò hạ nhân thúc đẩy phát triển ngành. Ngoài ra, sản phẩm quy chuẩn như bu-lông, ốc vít... vừa thiếu về số lượng, chủng loại lại không đảm bảo chất lượng, đa phần các dây chuyền thiết bị trên địa bàn đều phải mua linh kiện cơ khí thay thế từ các địa phương khác hoặc nhập khẩu.

- Lĩnh vực CNHT điện - điện tử, CNTT,  các DN trong nước chủ yếu sản xuất dây cáp, dây điện từ... Trình độ công nghệ của các DN trong nước đạt trình độ trung bình. Tuy nhiên trong lĩnh vực CNHT điện - điện tử, số lượng các DN trong
nước tham gia vào lĩnh vực này còn quá ít so với nhu cầu phát triển. Các doanh
nghiệp FDI trong lĩnh vực này nhìn chung có trình độ công nghệ trung bình,
một số DN của Nhật sản xuất linh kiện và cụm linh kiện điện - điện tử có trình
độ công nghệ tiên tiến, sản xuất sản phẩm để tái xuất khẩu 100% sản phẩm.

- Công nghệ sản xuất lĩnh vực CNHT ngành dệt may-da giày: Công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may còn nhiều bất cập. Năng lực các nhà máy cơ khí chuyên ngành dệt may hiện tại nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trong ngành. Dây chuyền sản xuất lạc hậu,

- CNHT sản xuất bao bì, in tem, nhãn mác nhìn chung đã trang bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến mặc dù lĩnh vực này chiếm tỷ trọng thấp trong giá trị sản phẩm nhưng các doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu của các ngành công nghiệp hạ nguồn. Các doanh nghiệp sản xuất và in ấn trên bao bì công nghệ hiện đại đáp ứng nhu cầu cao của các doanh nghiệp xuất khẩu.

2. Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Trên thực tế phát triển công nghiệp hỗ trợ song song với các ngành công nghiệp chính có lợi thế của tỉnh phù hợp với quy hoạch và chính sách phát triển CNHT của cả nước, quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Nghệ An. Phù hợp với thị trường và xu thế phân công quốc tế, được các nhà lắp ráp, sản xuất sản phẩm cuối cùng quan tâm do đáp ứng được nhu cầu nội địa hoá. Xem phát triển CNHT là một trong những khâu đột phá để nâng cao giá trị gia tăng và tạo nền tảng phát triển ngành công nghiệp bền vững. Phát triển CNHT có chọn lọc phù hợp với điều kiện thực tế của Nghệ An trong tổng 6 nhóm ngành hàng được Chính phủ quy định hỗ trợ nhằm phục vụ một số lĩnh vưc công nghiệp ưu tiên của tỉnh và hướng tới mục tiêu tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ưu tiên thu hút các Tập đoàn đa quốc gia lựa chọn Nghệ An đầu tư để tạo điều kiện cho công nghiệp hỗ trợ phát triển. Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

Để CNHT Nghệ An phát triển, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã ban hành quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 23/4/2019 UBND về việc phê duyệt chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2018 - 2025,  xác định các ngành và sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển, như: Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may, da-giày; Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử-tin học-viễn thông; Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo; CNHT ngành sản xuất, lắp ráp ô tô; Công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất vật liệu xây dựng; Lĩnh vực sản xuất bao bì, in ấn, nhãn dán; CNHT công nghiệp công nghệ cao. Ngoài ra việc  tạo điều kiện để các công ty FDI với các doanh nghiệp trong nước (quốc doanh và tư nhân) có điều kiện gặp gỡ, tìm hiểu và hợp tác làm ăn, tạo điều kiện cho công nghiệp phụ trợ phát triển.

          - Xúc tiến và hỗ trợ mở rộng thị trường trong và ngoài nước cho các doanh nghiệp phát triển công nghiệp hỗ trợ. Tạo mối liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp trong tỉnh với các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trong nước và nước ngoài

          - Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các doanh nghiệp CNHT đóng trên địa bàn tỉnh; tăng cường liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo với doanh nghiệp

          - Nghiên cứu và phát triển, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong các ngành CNHT ưu tiên phát triển; Sản xuất thử nghiệm và hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực để tiếp nhận chuyển giao công nghệ

          - Tư vấn, đào tạo hệ thống quản trị doanh nghiệp và quản trị sản xuất phù hợp với yêu cầu quốc tế để các doanh nghiệp CNHT đủ khả năng tham gia vào chuỗi giá trị

          - Hỗ trợ cho doanh nghiệp CNHT trong nước đầu tư trên địa bàn tỉnh Nghệ An, nhất là các DNNVV tiếp cận được nguồn vốn với lãi suất thấp để mua máy móc thiết bị, công nghệ phục vụ cho sản xuất sản phẩm CNHT

- Hỗ trợ hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư các nhà cung cấp FDI vào các ngành CNHT ưu tiên phát triển trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

- Công bố thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ trên trang thông tin điện tử của ngành Công Thương và cổng thông tin điện tử tỉnh.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về chính sách phát triển CNHT để thu hút đầu tư nguồn lực xã hội vào phát triển CNHT.

                                                  Nguyễn Công nhâm - Trưởng phòng CNHT

 

Phản hồi bài viết